Việt Nam

0
149

Việt Nam (tên chính thức: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là quốc gia ở phía Đông bán đảo Đông Dương thuộc Đông Nam Á. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Đông và Nam giáp Biển Đông. Thủ đô là Hà Nội từ năm 1976, với Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất. Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, là thành viên Liên Hợp Quốc, ASEAN, WTO, Phong trào không liên kết và các tổ chức quốc tế khác.[8]

Miền Bắc Việt Nam lệ thuộc phong kiến Trung Quốc từ năm 208 TCN tới năm 938, sau đó các triều đại độc lập tới khi Pháp đô hộ và lập chính quyền thuộc địa nửa phong kiến khoảng nửa sau thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám. Thất bại tại Điện Biên Phủ năm 1954 khiến Pháp thoái lui và Việt Nam chia cắt làm hai, tái thống nhất sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam cải cách hướng Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Từ năm 2000, Việt Nam là một trong những nước tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới[9], với tốc độ tăng chậm lại về sau.

Từ nguyên

Việt Nam đã có gần 40 tên gọi, khởi đầu từ các quốc hiệu Xích Quỷ, Văn Lang tới Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà Thanh công nhận “Việt Nam” (chữ Hán: 越南) là quốc hiệuNhà Nguyễn.[10] Chữ “Việt” 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này. Chữ “Nam” 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, là cương vực sau này. Đặt quốc hiệu là “Việt Nam” 越南 không nhầm với nước Nam Việt và thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Longlàm “Việt Nam quốc vương” 越南國王 mặc dù các vua Nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong “Hoàng đế” 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.[10][11]

Quốc hiệu “Việt Nam” được sử dụng lần đầu dưới thời vua Gia Long từ năm 1804.[12] Tên gọi này sau đó xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905, và sau đó được sử dụng bởi Việt Nam Quốc dân Đảng.[13] Thời Pháp thuộc, đất nước thường gọi là “An Nam” tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh ở Hà Nội chính thức đặt quốc hiệu là “Việt Nam”.[14]

Lịch sử

Lịch sử Việt Nam có thể chia ra các giai đoạn: tiền sử, Bắc thuộc, trung đại, cận đại và hiện đại.

Thời tiền sử và cổ đại

Trống đồng Đông Sơn – một ví dụ về Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100).

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng thời đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử được phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh Bình và Quảng Bình.[15] Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.[15]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa được phát hiện từ cao nguyên tới đồng bằng.[15] Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo.[15] Đến khoảng năm 1000 TCN, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn với những trống đồng đặc trưng.[16] Sau đó, những nhà nước đầu tiên, Văn Lang và Âu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ I TCN.[17]

Thời trung đại

Hoàng thành Thăng Longlà nơi đóng đô của một số triều đại phong kiến Việt Nam

Bản đồ thể hiện sự thay đổi lãnh thổ Việt Nam từ triều đại nhà Lý năm 1009 đến hết triều đại nhà Nguyễn năm 1945 và công cuộc Nam tiến mở rộng bờ cõi từ Bắc xuống Nam trong vòng từ năm 1069-1757

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị người Việt hơn 1000 năm.[18] Sau các lần khởi nghĩa không thành của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan hoặc giành độc lập trong thời gian ngắn như Hai Bà Trưng, Lý Bí, đến năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, song chưa hẳn là độc lập vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc.[19] Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận chiếnsông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán,[20] Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu độc lập khỏi các triều đình phương Bắc.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáo và Đạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tống và nhà Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. Một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập ra nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm kháng chiến. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập. Đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).[21]

Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ suy yếu, bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê Trung Hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nội chiến kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng Trong trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của Xiêm và Thanh để lập Nhà Tây Sơn, tái thống nhất Đại Việt. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, Tây Sơn bị Nguyễn Ánh, một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.[22] Suốt thời phong kiến, các triều Lý, Trần, Hậu Lê và chúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân Lạp và Tây Nguyên ở phía Nam, mở mang bờ cõi.[23]

Nhà Đấu xảo Hà Nội năm 1902

Thời cận, hiện đại

Lễ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Việt Nam tiếp xúc với phương Tây từ thế kỷ 16. Vào thế kỷ 17, Đàng Trong và Đàng Ngoài trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào Nha và Hà Lan,[24] sau thêm Anh và Pháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ[25] đến truyền bá Công giáo từ năm 1615, được Hội Thừa sai Paris và Dòng Đa Minhtiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong hai thế kỷ tiên khởi 17 và 18.[26] Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phương Tây được truyền bá song hành truyền thống.[27]

Thế chiến thứ hai, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng chính thể Đế quốc Việt Nam với Nội các do Trần Trọng Kim đứng đầu. Chính phủ không thực quyền, phải nộp thuế và cung ứng Nhật tài nguyên có lúa gạo, góp phần gây nạn đói năm Ất Dậu. Với sự ủng hộ và chuẩn bị từ trước, khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền từ tay Nhật, đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tháng 1 năm 1946, Chính phủ lâm thời tổ chức Tổng tuyển cử.[28] Sau thế chiến, Pháp muốn lấy lại Đông Dương nhưng vấp phải phản kháng của phía ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối chọi, Pháp hậu thuẫn lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.[29]

Chiếc xe tăng số 390 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam – chiếc xe đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975.

Chiến thắng của Việt Minh tại Điện Biên Phủ năm 1954 buộc Pháp rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự, dự sau hai năm sẽ tổng tuyển cử cả nước.[30] Tuy nhiên, sau các can thiệp bên ngoài tại miền Nam, Việt Nam Cộng hòa kế thừa của Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hỗ trợ tài chính, quân sự tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất.[31] Nhà nước xã hội chủ nghĩa miền bắc hậu thuẫn Chính phủ Cách mạng miền nam, có lập trường chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để thống nhất Việt Nam, gây ra xung đột quân sự. Năm 1964, Hoa Kỳ đưa quân chiến đấu tại miền nam và bắt đầu ném bom miền Bắc.[32] Cuộc tấn công Mậu Thân 1968 làm phong trào phản chiến gia tăng.[33] Năm 1973, sau những tổn thất chiến trường, khó khăn chính trường và chuyến thăm Trung Quốccủa Richard Nixon,[34] Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris rút phần lớn quân. Cuộc chiến kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.[35]

Năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tổng tuyển cử gộp nhất, đặt quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do bùng nổ Chiến tranh biên giới phía Bắc và Chiến tranh biên giới Tây Nam, giữ chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, Việt Nam hậu chiến lâm vào khủng hoảng kinh tế và xã hội.[36] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội.[37] Thập niên 1990, Việt Nam hội nhập quốc tế, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1994,[36] và gia nhập ASEAN năm sau đó.

Địa lý

Cánh đồng lúa ở Cái Mơn - Bến Tre Tuyến độc đạo lên đỉnh Phan Xi Păng (độ cao 3.000m)
Trái: Cánh đồng lúa ở Cái Mơn
Phải: Tuyến độc đạo lên đỉnh Phan Xi Păng (độ cao 3.000m)

Bản đồ địa hình Việt Nam

Việt Nam có lãnh thổ hẹp ngang, chạy theo chiều bắc – nam dọc bờ phía đông bán đảo Đông Dương. Khoảng cách giữa cực bắc nam theo đường chim bay là 1650 km. Vị trí chiều ngang hẹp nhất ở Quảng Bình chưa đầy 50 km. Đường biên giới đất liền dài 4.550 km.[38] Diện tích Việt Nam là 331.698 km², gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² vùng nước nội thủy, cùng hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm, gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Địa hình Việt Nam có núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có các dãy núi và cao nguyên như dãy Đông Triều, Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Sơn La ở phía bắc, dãy Bạch Mã, Trường Sơn và các cao nguyên Tây Nguyên ở phía nam. Đồng bằng chiếm một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển miền trung, đều là nơi tập trung dân cư. Tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng thuộc Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Đất Việt Nam chủ yếu là đất ferralit giàu sắt ở vùng đồi núi và đất phù sa màu mỡ ở đồng bằng. Đất ferralitic hình thành trên đá bazan ở Tây Nguyên tơi xốp và phì nhiêu. Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đất phèn. Rừng ở Việt Nam chủ yếu là rừng rậm nhiệt đớitrên vùng đồi núi. Ở vùng đất thấp ven biển có rừng ngập mặn. Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và các mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, chôrômát, vàng… Than đá có nhiều ở Quảng Ninh, Thái Nguyên và đồng bằng sông Hồng. Sắt ở Thái Nguyên, Hà Tĩnh. Về tài nguyên biển thì có cá, tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên.

Mạng lưới sông ngòi có các sông ở phía bắc như sông Hồng, sông Đà và ở phía nam như sông Tiền, sông Hậu. Hệ thống sông, hồ có ở miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Biển Đông bao bọc phía đông, nam và tây nam Việt Nam. Các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền, khoảng trên 1 triệu km².

Khí hậu

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến động thường xuyên. Phía bắc dãy Bạch Mã có hai mùa gió chính: gió mùa Đông Bắclạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh; gió tây nam nóng khô và đông nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió đông bắc vào mùa khô và gió tây nam vào mùa mưa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam trải qua lụt lội và hứng chịu 5 đến 10 cơn bão một năm. Do nằm ở Bắc Bán cầu, nên bão và áp thấp nhiệt đới vào Việt Nam xoáy ngược chiều kim đồng hồ.

Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (1964–2014).[39]

Sinh thái

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005. Việt Nam là một trong 25 quốc gia được coi là có mức độ đa dạng sinh học cao duy nhất. Được xếp hạng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã được tìm thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu. Ngoài ra còn có 1.438 loài tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài tảo, cũng như 794 loài thủy sinh không xương sống và 2,458 loài cá biển. Vào cuối những năm 1980, một quần thể Tê giác Java nhỏ được tìm thấy ở Vườn Quốc gia Cát Tiên. Tuy nhiên, cá thể cuối cùng của loài này ở Việt Nam đã chết vào năm 2010.

Ngân hàng gen quốc gia Việt Nam bảo tồn 12.300 giống của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 497 triệu đô la Mỹ để duy trì đa dạng sinh học trong năm 2004 và đã thiết lập 126 khu bảo tồn, trong đó có 28 vườn quốc gia. Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long và Vườn quốc gia Phong Nha ‒ Kẻ Bàng cùng 6 khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng và Tây Nghệ An.

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Việt Nam được chia ra 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương (*) với thủ đô là Hà Nội. Tổng cộng có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương.

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Tính đến năm 2015, Việt Nam có 713 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh.

Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn.

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực với tên gọi khác nhau như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Việt Nam
Nguyễn Phú Trọng
Nguyễn Phú Trọng
Tổng bí thư & Chủ tịch nước
Nguyễn Phú Trọng
Nguyễn Xuân Phúc
Thủ tướng
Nguyễn Thị Kim Ngân
Nguyễn Thị Kim Ngân
Chủ tịch Quốc hội

Việt Nam là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, với cơ chế có duy nhất một đảng chính trị lãnh đạo. Vào năm 2016, các đại biểu là Đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%[40], những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là Đảng viên và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị đề cử.

Đảng Cộng sản đứng đầu bởi Tổng Bí thư, là đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin “tập trung dân chủ” mà không cho phép đa đảng.[41]

Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm, đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Duy nhất quốc hội có quyền lập hiến, lập pháp với nhiệm vụ giám sát, quyết định những chính sách cơ bản, những nguyên tắc của bộ máy Nhà nước và quan hệ xã hội công dân. Quốc hội không độc lập và tuân thủ gần tuyệt đối các quy định từ Đảng nhưng sau Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn.

Nhà Quốc hội (thay thế cho Hội trường Ba Đình).

Chủ tịch nước có các quyền trong đó: Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; Tổng Tư lệnh vũ trang; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Thủ tướng, Chánh án tối cao, Kiểm sát tưởng tối cao,…; thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Việc tổ chức nhân sự chính phủ đều thông qua Bộ Chính trị quản lý.

Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử còn Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giữ quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cao nhất Việt Nam. Ngoài ra, Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề an ninh quốc gia.

Quân đội

Lính danh dự Việt Nam diễu binh trước Trung tâm Hội nghị Quốc gia, trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2010 tại Hà Nội

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam và Dân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam, được chia thành:

  • Quân chủng Lục quân: không tổ chức thành Bộ tư lệnh riêng như Hải quân, Phòng không – Không quân. Các đơn vị quân đoàn chủ lực và binh chủng thuộc quân chủng lục quân do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp quản lý chỉ đạo.
  • Quân chủng Hải quân: được xây dựng trên cơ sở Cục Phòng thủ Bờ biển. Ngày thành lập 7.5.1955.
  • Quân chủng Phòng không – Không quân: Từ năm 2000, hai quân chủng Phòng không và Không quân được hợp nhất lại thành Quân chủng Phòng không – Không quân.

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2011, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 2,48 tỷ USD, tương đương khoảng 2,5% GDP năm 2010.

Quan hệ đối ngoại

Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới

  Việt Nam
  Quốc gia có quan hệ ngoại giao với Việt Nam
  Thực thể có quan hệ ngoại giao không chính thức với Việt Nam
  Quốc gia không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam

Theo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, sau đổi mới, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995. Hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 14 nước châu Đại Dương, 30 nước châu Mỹ, 55 nước châu Phi).[42] Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ.[43] Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU. Việt Nam từng tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN (1998), ASEM (2004), Thượng đỉnh APEC (2006, 2017), Cộng đồng Pháp ngữ (1997); làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốcnhiệm kỳ 2008–2009, thành viên của ECOSOC nhiệm kỳ 2016–2018,[44] chủ tịch ASEAN năm 2010.

Kinh tế

Gạo – một trong những mặt hàng xuất khẩu chính.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế lớn nhất.

Chính sách Đổi mới năm 1986 thiết lập mô hình “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Từ năm 1993 đến 1997, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm khoảng 9%. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 giảm xuống 4% năm 1998 do ảnh hưởng của một cuộc khủng hoảng, và tăng lên 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000–2002 khi kinh tế thế giới đang trì trệ. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập WTO sau khi kết thúc đàm phán song phương với các nước có yêu cầu và chính thức là thành viên thứ 150 ngày 11 tháng 1 năm 2007.[45]

Năm 2013, tại một hội thảo ở Hà Nội, các chuyên gia nhận định nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007–2011, chỉ năm 2008 là Việt Nam tăng trưởng GDP trên 8% dù xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60% mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng, 18 tỷ USD vào năm 2008. Ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế 2007–2008 và đến năm 2013, nền kinh tế đối mặt với áp lực từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.[46] Tình trạng tham nhũng luôn xếp ở mức cao trên trung bình của thế giới[47][48] và vấn đề vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng, hàng chục ngàn thủ tục kinh doanh từ 20 năm trước đang tồn tại được cho là không hợp với kinh tế thị trường. Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và bằng 6,7% so với Singapore.[49]

Về địa lý kinh tế, chính phủ Việt Nam phân chia quy hoạch các vùng kinh tế-xã hội và các vùng kinh tế trọng điểm mỗi miền. Các tỉnh có GDP bình quân đầu người cao nhất: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh,… và có GDP bình quân đầu người thấp nhất: Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, …

Quốc lộ 1A, đoạn qua Quận 9 (TP.HCM).

Giao thông

Các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắc – nam. Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ… Có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tông hóa, số ít các tuyến đường huyện lộ đang còn là các con đường đất. Hệ thống đường sắt Việt Nam dài tổng 2652 km, trong đó tuyến Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam.

Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đông – tây dựa theo các con sông như sông Đà, sông Hồng, sông Sài Gòn… Dự kiến quy hoạch tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Quảng Ninhtới cửa khẩu Hà Tiên, Kiên Giang dài khoảng 3.041 km. Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển lớn ở 3 miền như cảng Hải Phòng, cảng Quy Nhơn, cảng Sài Gòn, …

Du lịch

Bài chi tiết: Du lịch Việt Nam

Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh nhất trong vòng 10 năm từ 2000–2010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam và năm 2017, có hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Đài Loan.[51]

Việt Nam có các điểm du lịch từ bắc đến nam, từ miền núi tới đồng bằng, từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử. Các điểm du lịch miền núi như Sapa, Bà Nà, Đà Lạt. Các điểm du lịch ở các bãi biển như Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu và các đảo như Cát Bà, Côn Đảo.

Khoa học

Thành tựu

Người máy TOPIO biết đánh bóng bàn

Với khoa học xã hội và nhân văn, di sản học thuật Việt Nam có Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Hoàng đế Trần Nhân Tông khi thoái vị đã lập ra nhánh thiền Trúc Lâm vào thế kỷ XIII. Cuốn từ điển song ngữ Hán–Việt đầu tiên là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa của Trịnh Thị Ngọc Trúc ra đời vào thế kỷ XVII. Công trình của học giả Lê Quý Đôn là một ví dụ của bách khoa toàn thư Việt Nam.

Những thành tựu kĩ thuật công nghệ ít hơn các thành tựu văn hóa có thể kế đến là Súng thần công sáng chế và cải tiến vào thời nhà Hồ bởi Hồ Nguyên Trừng. Số học và Hình học đã được giảng dạy rộng rãi ở Việt Nam từ thế kỷ XV, sử dụng theo cuốn Đại thành toán pháp của nhà toán học Lương Thế Vinh làm nền tảng. Lương Thế Vinh đưa ra khái niệm số không, trong khi Mạc Hiển Tích dùng thuật ngữ số ẩn để chỉ đến số âm. Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục trong Toán học Ứng dụng của thế kỷ XX, trong khi Ngô Bảo Châu đã giành được Huy chương Fields năm 2010 cho chứng minh của ông về Bổ đề cơ bản. Việt Nam có những tiến bộ trong phát triển robot, với mô hình hình người máy TOPIO.

Ngô Bảo Châu, nhà toán học Việt Nam nhận giải Field.

Chính sách

Năm 2010, tổng chi tiêu của Nhà nước vào khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP. Theo UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP để nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Chiến lược tìm cách thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế lớn hơn, với kế hoạch thiết lập mạng lưới các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và khởi xướng một mạng lưới kết nối các tổ chức khoa học quốc gia với các đối tác nước ngoài.

Một bộ chiến lược phát triển quốc gia cho các lĩnh vực trong kinh tế, chủ yếu liên quan đến khoa học công nghệ. Ví dụ là Chiến lược phát triển bền vững (2012) và Chiến lược phát triển ngành cơ khí (2006), cùng với Tầm nhìn 2020 (2006). Kêu gọi nhân lực có tay nghề, đầu tư nâng cấp công nghệ khu vực tư nhân. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011–2020 năm 2012 lập kế hoạch ưu tiên nghiên cứu toán, vật lý; điều tra khí hậu, thiên tai; phát triển hệ điều hành điện tử; công nghệ sinh học áp dụng đặc biệt cho nông, lâm nghiệp, y học và môi trường.

Nhân khẩu

Dân số

Tỉ lệ tăng dân số Việt Nam giảm dần trong giai đoạn 1980-2014[cần dẫn nguồn]

Bài chi tiết: Dân tộc Việt Nam và Thông tin nhân khẩu học Việt Nam

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Việt (hay Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổvà đồng bằng ven biển. Các dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số này, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, … Người Ơ Đu có số dân ít nhất. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa. Người Hoa và người Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm trong giai đoạn 1999–2009.

Việt Nam xếp thứ 15 trên thế giới về dân số.[52] Theo điều tra của Tổng cục thống kê, quy mô phân bố ở các vùng đông dân nhất là đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là bắc Trung bộ và duyên hải nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người. Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2014 thì 33,1% dân số Việt Nam đang sinh sống tại thành thị và 66,9% cư trú ở nông thôn.[53] Về tỷ số giới tính trung bình vào năm 2009 là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và thấp nhất là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ.[54]

Theo nhận xét của tờ The Economist, mức độ giảm dân số do sinh suất tụt giảm tạo ra viễn cảnh lão hóa ở Việt Nam với tỷ lệ người cao niên hơn 60 tuổi dự đoán sẽ tăng từ 12% (2018) lên 21% (2040). Đỉnh dân số lao động của Việt Nam là vào năm 2013, sau đó sẽ giảm dần. Tỷ lệ trẻ/già được cho là gây chao đảo về tài chánh để cung cấp dịch vụ y tế và cấp dưỡng khi 90% người cao niên không có khoản tiết kiệm nào cả khi ngân sách nhà nước chỉ phụ cấp cho người hơn 80 tuổi với bình quân vài USD/tuần.[55][56]

Giáo dục

Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[57]

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM

Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và sau đại học. Các trường đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố năm 2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[58] Có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ giáo dục đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước.[59][60]

Với bậc đại học, Việt Nam có tổng 376 trường cao đẳng, đại học trên cả nước, trong đó Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý 54 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long, trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam và đến năm 2017, toàn Việt Nam có 84 trường dân lập, tư thục.[61] Tổng số sinh viên bậc đại học đến năm học 2016–2017 là 1.767.879 người.[62]

Y tế

Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010, trên toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[63] với khoảng 246.300 giường bệnh.[64] Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện nhà nước.[65][66] Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.[67]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩ và dược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại.[65]

Ngành Y tế hiện tại của Việt Nam đang được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010 Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tỷ USD, các dự án được phân bố ở đều khắp các vùng miền.[68] Những năm gần đây bị y tế Việt Nam được đánh giá là tham nhũng ở nhiều cấp độ, được tìm thấy trong cả ba lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế.[69]

Tội phạm và tệ nạn

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức thấp so với các nước cùng trình độ phát triển và thấp hơn một số quốc gia phát triển.[70] Các băng nhóm tội phạm có tổ chức như Năm Cam, Khánh Trắng ít hơn và độ tinh vi không sánh được với Mafia quốc tế.

Việt Nam là địa điểm những tội phạm trong và ngoài nước lộng hành như các đầu dây mại dâm, ma túy.[71] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy như Tam giác vàng và Trăng lưỡi liềm vàng. Theo một số quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp.[71] Việt Nam tham gia các hội nghị quốc tế bàn thảo vấn đề trên như “Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông” do mình chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lân cận. Năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[71] Các tệ nạn khác cờ bạc, cá độ, sử dụng và buôn bán ma túy, mại dâm… Do sự phát triển của kinh tế – xã hội khiến, tình hình tội phạm có xu hướng tăng. Các tệ nạn liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá.[72] Một loại hình tội phạm phổ biến khác đó là tham nhũng với một số vụ án tiêu biểu như PMU 18, Vinashin. Việt Nam hiện vẫn duy trì án tử hình.

Văn hóa

Múa rối nước, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian.

Cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.

Những vùng có những nét văn hóa đặc trưng tại Việt Nam. Từ vùng đồng bằng sông Hồng với các đô thị chính: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, … Và vùng nông thôn của người Việt với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắc và đông bắc. Từ các vùng biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ. Từ vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer và các bộ tộc Tây Nguyên.

Với lịch sử hàng nghìn năm hội tụ các dân tộc, từ văn hóa bản địa của người Việt thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ XIX, phương Tây trong thế kỷ XX và toàn cầu hóa từ thế kỷ XXI, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.

Ngôn ngữ

Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của hơn 85% dân cư Việt Nam, cũng là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số. Tiếng Việt ở Việt Nam trước đây chủ yếu dùng chữ Nôm để viết. Văn tự tiếng Việt ngày nay chủ yếu là chữ Quốc ngữ Latinh do các tu sĩ Dòng Tên sáng tạo. Bên cạnh đó, Việt Nam có các ngôn ngữ thiểu số thuộc các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo, Hán-Tạng, Tai-Kadai, và H’Mông-Miền.

Tôn giáo

Tôn giáo tại Việt Nam (2014)[73]
  Tín ngưỡng dân gianhoặc không tôn giáo(73.1%)
  Phật giáo (12.2%)
  Công giáo (6.9%)
  Cao Đài (4.8%)
  Tin Lành (1.5%)
  Hòa Hảo (1.4%)
  khác (0.1%)

Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc có tín ngưỡng dân gian riêng. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Tây lịch cùng với Nho giáo và Đạo giáo. Được gọi chung là tam giáo, ba tôn giáo ảnh hưởng nhiều nhất tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng là quốc giáo thời Nhà Lý và Nhà Trần. Các tư tưởng Nho giáo tới nay vẫn có vai trò trong trật tự xã hội Việt Nam. Công giáo được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 16 và Tin Lànhtừ đầu thế kỷ 20. Hồi giáo được truyền vào Chăm Pa, Nam Trung Bộ từ các vương triều Hồi giáo ở Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo. Ngoài ra, có một lượng người tự nhận không tôn giáo.

Ẩm thực

Bánh cuốn.

Có sự kết hợp của năm yếu tố cơ bản: cay (kim loại), chua (gỗ), đắng (lửa), mặn (nước) và ngọt (đất). Nước mắm, nước tương, … Là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu chính trong món ăn. Nấu ăn truyền thống của Việt Nam được biết đến với các nguyên liệu tươi, ít dùng dầu, và phụ thuộc vào rau thơm, rau quả. Một đặc điểm phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ít có những món cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn (ví dụ chân cánh gà, phủ tạng động vật, trứng vịt lộn…). Phở là món ăn Việt Nam có thể kể đến.

Âm nhạc

Mô hình Đơn ca tài tử.

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng phía Bắc và phía Nam của đất nước. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất của Việt Nam. Trong suốt lịch sử, Việt Nam ảnh hưởng nặng nhất bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, cùng với của Hàn Quốc, Mông Cổ và Nhật Bản. Nhã nhạc là hình thức âm nhạc phổ biến của ca nhạc cung đình. Chèo là một hình thức phổ biến sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm hay Hát xẩm là một loại nhạc dân gian Việt Nam. Quan họ phổ biến ở Bắc Ninh và Bắc Giang. Hát chầu văn hoặc hát văn là một hình thức ca nhạc để hầu đồng trong các nghi lễ. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức hiện đại của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. Ca trù (còn gọi là hát ả đào) là một dạng nhạc dân gian. Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11năm 2005. Đờn ca tài tử Nam Bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Có một loạt các nhạc cụ truyền thống, như đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt… Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam và là một trong những loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người.

Trang phục

Áo dài, trang phục truyền thống của Việt Nam.

Áo dài là trang phục truyền thống, được mặc trong những dịp đặc biệt như đám cưới và lễ hội. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh ở nhiều trường trung học phổ thông khắp Việt Nam. Áo dài đã từng được mặc bởi cả hai giới, nhưng ngày nay chủ yếu dành cho phụ nữ, đàn ông cũng mặc nó vào một số dịp như đám cưới truyền thống. Một số ví dụ khác về trang phục truyền thống của Việt Nam bao gồm áo tứ thânáo ngũ cốc, yếmáo bà baáo gấm, … Mũ nón truyền thống bao gồm nón lá và nón quai thao.

Một số ngày lễ

Ngày thángSố ngàyTênGhi chú
1 tháng 11Tết Dương Lịch
30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 15Tết Nguyên ĐánÂm lịch
10 tháng 31Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
30 tháng 4Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước-Ngày Chiến thắng
1 tháng 5Ngày Quốc tế Lao động
2 tháng 9Quốc khánh

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here